TRÂU
Qua Phong Tuc, Văn
Chương Và Điển Tích
MƯỜNG GIANG
Trâu cũng như ḅ là những
gia súc được thuần hóa sớm nhất, sống gần
gũi với con người và rất hửu dụng tại
các quốc gia nông nghiệp như VN. Ở đồng bằng,
trâu giúp nông gia cày bừa, kéo xe, kéo mật, đạp lúa. Tại
vùng ngược, trâu được sử dụng trong việc
tải gổ, chuyển vận. Đối với chủ, trâu
là con vật ngoan ngoản dể dạy lại ăn uớng
giản dị sau một ngày làm lụng vất vă cực nhọc.
Thit trâu tuy dai nhưng cũng bổ dượng như thịt
ḅ. Bởi vậy tại VNCH trước tháng 4-1975, cục
mậu dịch đă cho phép nhà thầu, cung cấp thịt
trâu già làm thức ăn cho các tân binh tại hầu hết
quân trường, trung tâm huấn luyện cả miền
Nam hay đóng họp làm thức ăn
trong khẩu phần lương khô cho các đơn vị
tác chiến.
Nước ta từ
ngày các Tổ Hùng dựng nước tới nay vẫn là một
quốc gia nông nghiệp chuyên trồng lúa nước. V́ vậy
h́nh ảnh của con trâu luôn luôn gắn liền với đời
sống của quê hương nơi làng quê thôn dă. Tóm lại
trâu được nhân gian phản ảnh như một biểu
hiện thân thương tốt đẹp, một h́nh ảnh
tượng trưng cho sức sống và tạm hồn VN
bao đời, nên trong tâm thức của mọi nhà, luôn coi
trâu như là một người bạn đường một
đời đồng chung gian khổ, hơn là một con
vật được nuôi để làm việc trả nợ.
Không có trâu, nhà nông sẽ vô cùng khổ sở v́ họ phải
thế nó để kéo cày :
‘Trời xám thấp, rặng tre già trút lá
đầy ngơ thuôn hun hút gió chiều đông
sương mù bay phơi phơí tỏa đầy đồng
hơi lạnh cắn vào làn da cóng buốt
trong thửa ruộng chân đê tràn ngập nươc
đôi bóng người đang chậm bước đi
đi
người đàn ông cúi rạp
bước lầm ĺ
người vợ cố đẩy bừa theo sát gót
họ là những nông dân nghèo bậc nhất
không có trâu nên người phải làm trâu..’
(Thơ
TVĐ Người Trâu).
Do đó trâu là một
đề tài rất được phổ biến trong hầu
hết ca dao tục ngữ, thi ca b́nh dân lẫn bác học, điển
tích kể cả truyện ngắn truyện dài. Trong cuộc
sống hằng ngày của người VN nhất là tại
nông thôn, trâu được coi như là một gia tài lớn.
V́ thế trâu chẳng những là ‘đầu cơ nghiệp’ mà
c̣n là một hảnh diện để chưng diện khoe
khoang, nên ‘tậu trâu lấy vợ làm nhà, trong ba việc ấy
lọ là khó thay’.
C̣n ǵ đẹp hơn cái cảnh
‘mục đồng ngồi trên ḿnh trâu thổi sáo’
nơi ḍng tranh dân gian Đông Hồ, hay h́nh ảnh của trâu được
nhắc qua tiếng thơ của Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn
Khuyến.. nói lên cảnh sống êm đềm hạnh phúc
nơi thôn dă, tuy rất b́nh dân mộc mạc nhưng lại
là niềm mơ ước ngàn đời của dân tộc
Việt.. tiếc thay tới nay vẫn chưa toại nguyện:
Rũ
nhau đi cấy đi cày
bây giờ
khó nhọc có ngày phong lưu
trên đồng
cạn, dưới đồng sâu
chồng
cày vợ cấy con trâu đi bừa
(ca dao)
Quả thật trâu-ḅ đă
đi vào tâm thức của người Việt bao đời,
nên không có ǵ phải ngạc nhiên khi ta thấy trong hầu hết
mọi tác phẩm về thi ca, nghệ thuật, điêu khắc..
kể cả những pho truyện kiếm hiệp Trung Hoa
nổi tiếng của Kim Dung... mỗi
lần nhắc tới cảnh thôn quê, lủy tre xanh, bờ
dậu cỏ, luống mạ non đồng lúa vàng, bác nông
phu, chàng mục tử… th́ không thể nào không nói tới trâu
bên cạnh v́ nó là con vật luôn hiện diện bên người,
qua nhiều lănh vực với một chổ đứng
trân trọng và đầy thiện cảm.
1- HUYỀN
+ Nguồn gốc và phân loại
Trâu:
Trâu VN
có cùng xuất xứ với loài trâu Đông Nam Á thuộc nhóm
trâu đầm lầy (Swamp Buffalo) có vóc dáng vạm vở, bụng
to chân ngắn, lông màu xám đen, sừng dài nhưng cong ngược
về phía sau như h́nh bán nguyệt. Đặc biệt có một
miếng vá xám trắng gần góc trong của mỗi con mắt
và luôn luôn có hai đai trắng (chevron), một ở dưới
cổ gần cuống họng, c̣n cái kia ở ngực. Trâu
cái mang thai từ 11-11,5 tháng mỗi lứa 1 tới 2 nghé. Từ
các di chí t́m được tại Phú Lộc,Hậu Lộc
tỉnh Thanh Hóa, cho thấy trâu đă được dân Lạc
Việt thuần dưỡng từ thời các vua Hùng trị
nước Văn Lang.
Theo nhà động vật học
K.Kenler (1920) th́ trâu là con vật cổ xưa thuộc nhóm
thú có sừng đầu tiên trở thành gia súc. Trâu thuộc
bộ Ḅ (Bos) loài nhai lại có sừng rổng chân mang móng
guốc chẳn. Tuy cùng họ với ḅ, linh dương, sơn
dương, dê… nhưng trâu có những sự khác biệt về
cấu tạo sinh học với nhóm thú tương cận
trên. Loài trâu hiện có 3 nhóm: trâu Anom, trâu Châu Á và trâu Châu Phi.
+ Trâu trong lănh vực tín ngưỡng,
huyền thoại và quân sự:
- Trong
Lănh Vực Tín Ngưỡng: Theo ḷng tin của các tín đồ
Phật Giáo đồ Ấn Độ, Tích Lan và các nước
Đông Nam Á, th́ ngay từ buổi khai sinh lập địa, Ngọc
Hoàng Thượng Đế phái Kim Quang Bồ Tát đem hai loại
hạt giống ‘ cỏ và lúa’ xuống trần gian tạo
thức ăn cho người và súc vật với số lượng
5 lúa 1 cỏ. Nhưng Bồ Tát lại làm trái lời Thượng
Đế, gieo 5 lần cỏ trước và lúa th́ gieo sau chỉ
một lần. Bởi vậy khắp trần gian cỏ mọc
tràn lan làm cho con người thiếu thực phẩm để
sống nên phải làmviệc cực nhọc khi đốn
cỏ cây dọn sạch đất mới trồng lúa đuợc.
Vua trời biết giận dữ nên đày Kim
Quang xuống trần làm trâu để ăn hết cỏ.
Từ huyền thoại trên, ta thấy loài trâu-ḅ ngoài việc
phải làm việc rất cực nhọc ban ngày, đêm tới
c̣n phải nhai cỏ bơm bẻm như muốn chuộc lại
lầm lỗi đă gây ra. Đó cũng là lư do tín đồ Phật
Giáo cử không ăn thịt trâu. Thật ra người VN
dù theo bất cứ tôn giáo nào, cũng đều không thích
giết trâu ăn thịt v́ thương con vật có
nghĩa t́nh lại giúp họ làm nên cơ nghiệp, ngoại
trừ đồng bào Thượng sống trên cao nguyên
Trung Phần.
Đại Việt ngay từ
thời Lư Trần (thế kỷ XI-XIV) lấy nông nghiệp
làm nguồn kinh tế chính cả nước, do đó đă
ban hành chính sách phân chia ruộng đất cho nông gia để
khuyến khích việc đồng áng tăng gia sản xuất.
Đồng thời chính quyền cũng rất quan tâm tới
‘con trâu’ v́ nó là động lực giúp
nhà nông trong mọi nông vụ. Bởi vậy năm 1123 vua
Lư Nhân Tôn đă xuống lệnh ‘Cấm Giết Trâu Ăn
Thịt’ ai vi phạm sẽ bị phạt
nặng theo luật pháp.
Tiếp đến thời
Nhà Trần cũng noi theo Luật H́nh Thư (đời Lư)
mà sửa đổi thành H́nh Luật , trong đó qui định
h́nh phạt về các tội ăn trộm và giết hại
trâu ḅ. Hàng xóm hay bất cứ ai biết mà che chở không tố
giác cũng bị xử đánh Trương
rất nặng.
Vào những ngày đầu
xuân, nhà vua thân chính tới lễ đàn để
tế Thần Nông và cũng tự ḿnh cầm cương dắt
trâu làm lễ cày ruộng tịch điền, tuy chỉ là
một h́nh thức tượng trưng nhưng lại vô
cùng ư nghĩa về sự quan tâm của chính quyền đối
với nên nông nghiệp của nước nhà. Tịch điền
là một thửa ruộng dành riêng để nhà vua cử
hành nghi thức cày ruộng đầu năm. Riêng con trâu
cày ruộng tịch điền, cũng được nuôi
dưỡng đặc biệt và là loài trâu đực thiến.
Ngày làm lễ, trâu được tắm rữa sạch sẽ,
mặc gấm vóc. Vua sau khi tế thần xong, th́ bước
xuống ruộng cày một đường tượng trưng,
mở đầu cho vụ mùa năm mới cầu cho cả
nước được ‘phong đăng, ḥa cốc’ làng
nước thanh b́nh, muôn dân an cư lạc nghiệp.
Một giáo sĩ người
Ư tên AdrianoDi Santa Tecla thuộc gịng Augustin truyền đạo
Thiên Chúa tại Đàng Ngoài từ năm 1738-1765, kể chuyện
‘Đám Rước Trâu Đất Trong Lễ Lập Xuân ‘dưới
thời Vua Lê Chúa Trịnh’ cách đây
300 năm. Tài liệu quư giá này là một bản viết tay,
hiện được lưu trữ tại thư viện
quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale) bằng tiếng Latin dưới
tựa đề ‘Opusculum de sectic apud Sinenseset Tunkinenses’,
được tham khảo từ hai bức thư của
vị linh mục Tây Ban Nha tên Francisco Gil de Frderich có tên Việt
là Tế, đă ghi lại những phong tục tập quán
ngày xưa ở Bắc Hà, khi ông bị giam trong ngục từ
năm 1737-1745.
Phan Huy Chú cũng ghi lại
đám rước
Trâu và Mục Đồng trong dịp lễ tế Lập Xuân
hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán gần giống như
tài liệu của các vị giáo sĩ Thiên Chúa Giáo từng
truyền đạo tại Đàng Ngoài. Cũng liên quan tới
Trâu trong lănh vực tôn giáo và tín ngưỡng, ngoài việc
các dân tộc Trung Á và đồng bào thiểu số ở
cao nguyên Trung Phần tới nay vẫn giữ nguyên tục
lệ giết trâu để tế thần linh hay tổ chức
lễ lat. Nhà toán học Ấn Độ là Pythagore cách đây gần
25 thế kỷ, đă t́m được định lư mang
tên ông để tính các cạnh trong một tam giác vuông ‘b́nh
phương cạnh huyền bằng tổng b́nh phương
của hai cạnh góc vuông: a2 + b2 = c2. Đồng lúc nhà Chu bên
Tàu cũng t́m được công thức số học tương
đương với định lư h́nh học trên’ 3x3
+ 4x4 = 5x5. Để ăn mừng phát minh trên, nhà Chu đă giết
trâu theo công thức trên vào các dịp tế lễ nếu nhỏ
th́ 25 con c̣n lớn th́ dùng tới 100 con cũng dưa theo
công thức số học: 6x6 + 8x8 = 10x10.
THẬP MỤC NGƯU ĐỒ:
Tám trăm năm trước, một vị thiền sư
người Nhật đă vẽ 10 bức tranh Trâu gọi
là ‘Thập Trận Ngưu Đồ’ dùng
làm tài liệu Phật học để các đệ tử
chiêm ngưỡng phá Công Án. Sau đó nhưng búc
tranh trên được vẽ lại và truyền sang Trung
Hoa, phổ biến trong các thiền viện qua cái tên mới
là ‘Thập Mục Ngưu Đồ’. Đây là mười bức tranh
‘chăn trâu’ duợc giới Phật Học Tàu dùng để
tượng trưng cho cái tâm của con người, rất
khó điều ngự (tâm viên ư mật) ư nói tâm con người
luôn nhảy nhót như con vượn, v́ vậy cần phải
tu dưỡng để đưa nó trở lại con đường
chính đạo.
Được biết các bộ
tranh Chăn Trâu của Phật Giáo Đại Thừa và Thiền
Tông Trung Hoa đều xuất hiện vào đời Nhà Tống
(thế kỷ XII), nội dung nói chung chỉ khác biệt
chút ít về quá tŕnh đốn ngộ (giác ngộ tức
th́) và tiệm ngộ (giác ngộ từ từ). Yếu điểm
cách tu tŕ của Thiền Tông là những công án được
đề xướng như nhát búa cuối cùng đập
vỡ những suy tưởng mà con người dựa vào
đó để
biện luận cho nhân sinh quan của cuộc đời.
Đó là lư do tranh chăn trâu của Thiền Tông đă không dừng
lại ở giai đoạn ‘quên cả vật và ta’ mà lại
quay về cái bản thể chân thật, để rồi
rong chơi trong cơi thực tại này.
Các bộ tranh chăn trâu
trên được du nhập vào VN từ lâu nhưng tới
thời Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 15
(1719) mới xuất hiện một bộ tranh chăn trâu
do thiền sư Quảng Trí ở chùa Trấn Hải sáng tạo,
dựa theo 10 bức tranh chăn trâu của Phật Giáo Đại
Thừa, ngoài ra ông c̣n vẽ thêm những cảnh giới để
đạt tới tâm thức gọi là phép luyện tâm. Đây
là một công tŕnh quư báu của Phật Giáo VN, đă được
khắc in vào thời Vua Tự Đức nhà Nguyễn. Tóm lại
dù có xuất xứ từ Nhật Bổn, Trung Hoa hay VN, 10 bức
tranh chăn trâu hay Thập Mục Ngưu Đồ trước
sau vẫn là một công tŕnh tu tập của Phật tử,
đi từ giới tới định và huệ, từ
thanh vân, duyên giác đền Bồ Tát, Phật và cuối
cùng đạt tới đỉnh của hửu tâm trở
thành vô tâm, tất cả là không và đó là cơi niết
bàn.. như bài kệ của một thiền sư đời
Lư đă đốn ngộ:
‘Có th́ có tự mảy may,
Không th́ cả thế gian này cũng không
Vừa xem bóng nguyệt ḷng sông
Ai hay không có, có không là ǵ?
Đó mới chính là mục
đích mà các vị chân tu
khi sáng tạo ‘Thập Mục Ngưu Đồ Tụng’ chỉ mong Phật tử tu tập
để biến Trâu Đen (ô trọc) thành Trâu Trắng (Ngộ)
thế thôi.
- Huyền Thoại về Mục Tử VN:
Trong ḍng Việt Sử từ buổi
b́nh minh lập quốc tới ngày nay, đă có không biết
bao nhiêu danh nhân xuất thân từ mục tử, làm nên sự
nghiệp an dân giúp nước rất hiển hách, lưu
danh thiên cổ, ai đọc tới cũng cúi đầu
ngưỡng mộ.
ĐINH TIÊN HOÀNG ĐẾ: Tên thật Đinh
Bộ Lĩnh người Động Hoa Lư, thuộc huyện
Gia Viễn tỉnh Ninh B́nh (Bắc Phần). Lúc bé cha mất
sớm nên ông sống với mẹ ở nông thôn, ngày ngày
cùng lũ trẻ chăn trâu, thường bắt chúng khoanh
tay làm kiệu rước ḿnh. Lại lấy hoa lau làm cờ
lệnh, chia phe dàn trận đánh nhau ngoài đồng. Lớn lên ông theo Trần Minh
Công dẹp yên loạn sứ quân trong nước, nên được
xưng tụng là Vạn Thắng Quân. Năm 968 lên ngôi hoàng
đế, lập nhà Đinh xưng hiệu Đinh Tiên Hoàng đóng đô tại Hoa Lư (Ninh B́nh).
QUỐC TRIỀU TÁ MỆNH CÔNG NGUYỄN
CHÍCH: Tá Mệnh Công tên thật là Nguyễn Chích, người
Mă Trạch Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa (Trung Phần). Mồ
côi cha mẹ rất sớm lại phải nuôi nấng hai
em c̣n thơ dại nên phải bán ḿnh làm kẻ chăn trâu
trong làng. Từ thuở nhỏ, ông đă có biệt tài nuôi
và dạy chim bồ câu đưa tin trong chiến trận.
Lớn lên theo B́nh Định Dương Lê Lợi suốt 10 năm
kháng chiến đánh đuổi
giặc Minh, lập được nhiều chiến công hiển
hách nên được vua ban quốc tính và phong tới chức
Tá Mệnh Công. Ông mất ngày
LƯỞNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN
NGUYÊN TRỰC: Ông là con cháu công thần đời Trần nhưng
v́ loạn lạc nên gia đ́nh lui về
sống ẩn dật tại quê nhà ở Phủ Quốc Oai
tỉnh Sơn Tây. Thuở nhỏ phải chăn trâu giúp
cha mẹ nhưng bản tính thông minh hiếu học nên ông
thường dùi mài kinh sử trên lưng trâu. Năm 26 tuổi
thi đổ trạng nguyên dưới triều vua Lê Thái
Tông (1442). Năm 1445 ông đi sứ sang Tàu, gặp lúc nước
này đang mở khoa thi nên xin ứng thí và đổ trạng
nguyên, mới được gọi là ‘lưởng quốc
trạng nguyên’.
NHÀ QUÂN SỰ LỪNG DANH ĐÀO DUY TỪ:
Ông người Thanh Hóa, v́ thuộc gia đ́nh ‘xướng
ca’ nên không được phép dự thi, v́ vậy phải bỏ
vào Nam Hà để lập thân. Là người thông suốt
kinh sử, giỏi thuật số và sáng tạo nhưng sống
nơi xứ lạ không có người tiến dẫn phải
xin vào chăn trâu cho một phú ông ở xă Tùng Châu, phủ
Hoài Nhơn tỉnh B́nh Định. Tại đây ông được
phú ông mến tài nên gă con gái và tiến cử với Sải
Vương Nguyễn Phúc Nguyên. Từ đó ông được chúa trọng vọng
giao hết binh quyền nên một ḷng giúp Nam Hà ổn định
chính trị, kinh tế, quân sự, đắp luy Trường
Dục (Quảng B́nh) ngăn giặc Trịnh phương
Bắc, đồng thời mở đầu cho cuộc
nam tiến, nhờ vậy bờ cỏi nước ta mới
được rộng lớn như hiện nay.
+ Trâu Trong Phong Tục
Tập Quán:
Trước đây
ở mỗi phủ huyện miền xuôi thường có chợ
trâu là nơi họp mặt để mua bán trâu. Một số
chợ nổi tiếng như chợ Gồi (Nam Định),
chợ Thủy Nguyên, Thủy Tú, Thủy Tề (Hải
Pḥng), chợ Thanh Hà (Hải Dương). Tại đây nghề
lái trâu ra đời đúng như
thành ngữ ‘miệng lưỡi lái trâu’ mà đa so giới
này là những kẻ lừa đảo, khiến cho thiên hạ
tin theo phải tán gia bại sản, khi nghe theo lời đường
mật nên mua lầm, v́ con trâu là đầu sự nghiệp.
Người Thái
Trắng ở vùng ḷng chảo Mường Ḷ (Tây Bắc) mừng
Tết Xíp Xí vào tháng 7 Âm lịch, có liên quan tới vụ
mùa. Dịp này người ta tổ chức cho Trâu ăn Tết.
Hôm đó trâu được tắm
rữa sach sẽ, dắt tới buộc ở chân cầu
thang nhà sàn, chủ nhà sau khi nói đôi lời cám ơn trâu, rồi
mang xôi thịt cả rượu đăi trâu. Hôm đó cũng là ngày Tết Mục Đồng, bọn
trẻ chăn trâu được tự do dắt trâu và
mang thit xôi t́m tới một nơi ưa thích để nô đùa, ăn uống, ca hát.
Tết trâu
cũng là một phong tục cổ truyền ở các vùng
nông thôn VN. Tại Hoằng Hoá, Nga Sơn (Thanh Hóa), Vĩnh
Linh (Quảng Trị), vài ngày trước Tết, người
ta t́m thứ cỏ thật ngon và mớ rơm khô để
thưởng trâu ăn tết. Trâu được tắm rữa
sạch sẽ, chuồng cũng quét dọn kỹ càng. Sáng
mùng một Tết, mỗi con trâu đều được
dán trước trán một lá bùa đỏ để trừ
tà, xua đuổi vận rũi trong năm cũ cũng như
chúc cho trâu năm mới sức khoẻ dồi dào, ăn no
cày mạnh. Sau khi cúng thần chuồng, trâu cũng được
ăn cổ với các món bánh chưng, thịt cá, xôi chè... Đồng
thời chủ cũng chọn ngày tốt dắt trâu thưởng
xuân và cày thử để lấy hên.
Với người
Chàm ở Ninh-B́nh Thuận, con trâu là loài vật có liên hệ
tới các lễ nghi phong tục đồng thời
cũng là lễ vật dâng cúng thần linh, ông bà, cha mẹ...
Theo phong tục tập quán từ xưa truyền lại, cứ
7 năm một lần, vào tháng 7 lịch Chàm, dân làng cúng thần
linh tại núi đá trắng
(Giang Patao) thuộc làng Như B́nh, Phước Thái, Ninh Phước
(Ninh Thuận) một con trâu trắng. Riêng lễ đâm trâu
vẫn c̣n tồn tại với người Chàm theo đạo
Bà La môn và BàNi vào dịp có tang lễ.
Người Việt
gốc Miên ở Nam Phần từ xưa đă có tục rước
trâu ḅ nhân ngày Tết đến. Theo tập quán cũ, cứ
vào đầu năm mới, nông dân nặn tượng trâu
ḅ và lực điền bằng đất sét. Những tượng
đất này được đặt vào kiệu để
du hành trong cuộc rước lễ, do vị chức sắc
đứng đầu trong sóc gọi là A-Cha chủ xướng.
Đoàn kiệu có giàn nhạc tháp tùng, khởi hành từ làng ra
ruộng và đặt tất cả những tượng đất
ở đó với ngụ ư là
các tượng sẽ gánh hết bệnh tật và sự
xui sẽo trong năm cho dân làng. Cuối cùng là xẽ thịt
trâu ḅ để mừng năm mới.
Về tục chọi
trâu, trước khi xăy ra cuộc kháng chiến chống Pháp
của toàn dân Việt (1946-1954) nhiều làng xă ở Bắc
Phần đă có và được cử hành vào dịp Tết.
Nổi tiếng nhất vẫn ở Đồ Sơn (Kiến
An) và vùng Vĩnh-Phúc Yên. Tại đây Hội Chọi Trâu
khai diễn 2 lần vào ngày 28 tháng Chạp và 17 tháng Giêng Âm lịch
với 8 cặp trâu tham ự. Càng về sau do t́nh trạng
chiến tranh, loạn lạc và đoí kém nên chỉ c̣n 4 cặp
trâu hay it hơn tuỳ thuộc t́nh h́nh kinh tế.
Theo truyền thống
th́ trước ngày khai hội một năm, làng xă chọn
các chàng trai nuôi trâu qua bốc thăm. Người trúng tuyển
được nhận 50 đồng bạc Đông Dương
để tự mua trâu về nuôi. Thời gian chăm sóc
trâu cũng vô cùng vất vă cực nhọc, từ ăn uống
tới chuồng trại và canh chừng không cho trâu đực
sút chuồng nhảy cái. Riêng người nuôi trâu cũng bị
cấm cử gắt gao từ việc ăn uống (cấm
thịt chó, hành tỏi sống) và sự gần gũi đàn bà. Rồi ngày Hội Chọi Trâu
cũng tới, thu hút dân chúng trong vùng và các tỉnh lân cận
tham dự rất đông vui. Với những con trâu đực
sung sức bị nhốt lâu ngày, nay được thả
ra tha hồ chém húc chí mạng, giữa tiếng hoan hô cổ
vơ của con người. Thật là sung sướng vô cùng
cho những chàng trai có trâu thắng cuộc nhưng cũng
vô cùng bất hạnh cho ai có trâu làm biếng không chịu đấu.
Chàng trai đó ngoài việc phải
trả lại 50 đồng cho làng xă, mà c̣n bị mang tiếng
là không chịu giữ trai giới nên bị thần thánh quở
phạt.
Trên cao nguyên Trung
Phần, từ trước tới nay người Thương
chỉ đốt rừng làm rẩy trồng lúa khô, nên trâu
ḅ nuôi phần lớn chỉ dùng vào việc cúng tế lễ
lạc vào các dịp Tết và lễ mừng mùa gặt mới.
Trong ngày Hội Đâm Trâu, một cây nêu cao từ 5-6m đuợc
trồng, phía trên thiết một bàn thờ nhỏ để
cúng thần núi và ông bà bản địa. Quanh thân cột được
chạm trổ tinh vi cắm nhiều lưởi dao. Con
trâu tế thần bị cột ở đó.
Sau khi pháp sư
hành lễ xong, một chàng trai lực lưởng ra sân chém
trâu. Mọi người trong thôn bảng đều có mặt
hôm đó và vây kín sân lễ, giữa
tiếng chiêng trống nổi lên phá tan sự im vắng hằng
ngày của núi rừng, như để cổ vơ tinh thần
của người trong cuộc. Đầu tiên chàng ta chạy
ṿng theo con trâu, thừa dịp dùng dao bén chém vào bốn gót
chân con vật. Trâu bị thương té quị giữa sân
lễ, để rồi hứng chịu thêm nhiều
mũi giáo nhọn đâm lũng tim tới chết. Sau cùng đám thanh niên khác a vào phanh thây trâu, đem nướng
trên đống lửa đang bùng cháy dữ dội, miệng
tu rượu cần và ca hát vui vẽ.
Nam Dương là
một quốc gia hải đảo sống về nông nghiệp
trồng lúa nước. Tuy vấn đề chủng tộc
rất phức tạp tại đây nhưng dù là người
Batak, Minang Kabaus hay Toradjas.. đều tôn trọng trâu sau sự
thờ cúng tổ tiên, v́ chinh con vật tại đất nước
này được xem như là một biểu tượng
giúp họ đắc lực trong đời sống hàng
ngày. Ngoài ra trâu c̣n được nhắc nhớ từ truyền
thuyết của người Minang Kabaus ở tây bắc đảo
Trâu cũng được
dự phần trong thực đơn của vua chúa Trung Hoa
từ trước tới nay vẫn nổi tiếng ăn
uống rất cầu kỳ tốn kém. Món ‘Da Tây Ngưu
(Trâu Tây Tạng)’ được xếp trong thập trân gồm:
gan rồng, chả phụng, bao tử cọp, vi cá gáy, thịt
cú, môi đuời ươi, bàn tay gấu, nem cóc và da tây ngưu.
Tây ngưu hay Tê ngưu
(Seaigan) thuộc bộ ḅ, nhóm phụ tây ngưu rất giống
trâu về vóc dáng nhưng đặc biệt chỉ có một
sừng mọc trên sóng mũi, bén nhọn như mũi mác
làm bằng thép cứng dài khoảng 0, 70m, là vũ khí lợi
hại dùng để tấn công kẻ thù như voi, cọp,
sư tử. Nó rất hung dữ, đa t́nh, sống thành từng
đàn tại vùng tây nam
Trung Hoa, trong những khu rừng thưa śnh lầy có khí hậu
ẩm thấp. Trên cao nguyên Tây Tạng có nhiều loại
tây ngưu như hắc tây ngưu da đen một sừng,
bạch tây ngưu lông trắng hai sừng và sơn tây ngưu
chỉ sống trên núi cao. Loài tây ngưu chân có ba móng như
heo, đặc biệt là da rất dày trên một tât (10 cm) lại
dai như gân, cứng như sắt thép nên không có thứ
vũ khí nào kể cả đạn xuyên thủng được.
Tây ngưu săn
mồi vào ban đêm, ăn cây cỏ
thực vật, uống nước bùn và ngủ li b́ ban
ngày. Sừng tây ngưu là thuốc quư chửa các loại bệnh
ung nhọt nhưng chính da mới là một trong mười
món thập trân cao lương mỹ vị của vua chúa và
giới hào phú Tàu. Nhưng hạ con vật này là một công
việc hiểm nguy đầy khó khăn không thua ǵ sự
chế biến da tây ngưu thành món thập trân cho vua chúa.
Da tươi trước hết đem cạo hết lông,
lóc bỏ phần mỡ rồi đem phơi nắng ban
ngày, tối sấy khô liên tục trong 200 ngày. Sau đó đem da tẩm rượu
mai quéạ lộ loại thượng hạng trong một
tháng, vớt ra phơi khô và cất kỹ trong một chiếc
hộp làm bằng vàng hay bạc, để giữ mùi thơm.
Lúc ăn đem da ngâm trong nước tro thảo mộc loại
quư suốt 7 đêm ngày mới
vớt ra, rữa sạch rồi đem chưng cách thủy
cho chín. Cuối cùng thái thành từng lát mỏng, nấu với
các vị thuốc bổ thêm vào các gia vị hảo hạng.
Lúc này da tây ngưu trở thành gịn như thạch, có mùi thơm
ngát tựa hoa hồng. Da tây ngưu chữa dứt được
hôi nách và nhiều loại bệnh thời khí.
2 - TRÂU TRONG VĂN CHƯƠNG
VÀ ĐIỂN TÍCH:
Trong hàng gia súc sống
kề cận bên người, trâu-ḅ cũng là loài vật có
nghĩa t́nh nên được đưa vào ca dao tục ngữ,
điển tích và trở thành những đề tài quan trọng
trong nền thi ca VN.
+ Trâu Trong Ca Dao Tục
Ngữ:
- Con trâu là đầu
cơ nghiệp
- Lộn con toán,
bán con trâu.
Hai câu trên nói tới
sự quan trọng của con trâu trong mọi gia đ́nh VN tại
nông thôn. Bởi vậy khi đi tậu trâu, mọi người
rất cẩn trọng v́ nếu sơ ư tin lời bọn
lái trâu bất lương, mua nhằm trâu xấu th́ tán gia bại
sản là cái chắc
- Ngưu lực đại,
năng canh điền, năng văn xa: nói tới sức mạnh
của trâu.
- Nhà anh chín đụm
mười trâu
Lại thêm ao cá, bắt
cầu rửa chân
Lời khoe khoan
giàu có của các chàng trai đồng quê khi tỏ t́nh với
bạn gái.
- Ruộng sâu, trâu
nái: Chỉ sự giàu có trong làng.
- Làm ruộng mạnh
có trâu
- Làm dâu mạnh có
chồng.
- Tậu trâu lấy
vợ làm nhà,
Trong ba việc ấy, lọ là khó
thay
Nói tới sự
quan trọng của trâu trong công việc đồng áng.
- Phùng ph́nh lớn
giữa lớn ra
Mẹ ơi con chẳng ở nhà được
đâu
Ở nhà làng bắt mất trâu:
cũng có ư nghĩa giống như trên.
- Muốn giàu th́
nuôi trâu nái
muốn lụn bại th́ nuôi bồ
câu:
Trâu cái vừa giúp
người vừa sinh nghé có lợi cho chủ nhà.nông.
- Trâu ơi ta bảo
trâu này
trâu ra ngoài ruộng,
trâu cày với ta
cấy cày vốn
nghiệp nông gia
ta đâu trâu đáy ai mà quản công...
chồng cày vợ
cấy con trâu đi bừa...
Diển tả sự
quan hệ mật thiết giữa trâu và người.
- đàn gảy
tai trâu: nghĩa bóng diển tả sự ĺ lợm của
người đời
- Ngưu đầu,
mă viện: nghĩa bóng chỉ bọn người chuyên làm
chuyện xấu.
- Ngưu tầm
ngưu, mă tầm mă: chỉ bọn người xấu t́m
tới nhau để lập bè nhóm.
+ Trâu trong thành ngữ,
điển tích:
- NGƯU ĐỈNH,
PHANH KÊ: Dùng cái vạc to có thể luộc cả con trâu để
nấu con gà, ám chỉ người có tài trí lớn lại
không được sử dụng đúng chổ.
- NGÔ NGƯU SUYỂN
NGUYỆT: Điển tích này được chép từ tân thư
nói chuyện Măn Phấn làm quan dưới thời Tấn
Vơ Đế (Tư Mă Viêm) có tật sợ gió bấc như cọp.
Một hôm Phấn vào cung chầu vua, v́ cửa sổ phía bắc
làm bằng pha lê trong suốt nên ông ta tưởng cửa mở,
v́ vậy sợ quá tới nổi phát run bần bật khiến
nhà vua cũng tức cười. Để chửa thẹn, Mản Phấn
tâu ‘thần cũng như loài trâu ở đất Ngô nh́n thấy
trăng là lên cơn suyển’. Từ điển tích trên, người
Ngô khi diễn tả sự sợ hải quá đáng th́ nói ‘ngưu Ngô suyển nguyệt’. Thành
ngữ trên c̣n có dụng ư khuyên ta khi gặp phải bất
cứ chuyện ǵ, trước khi hành động phải
xem xét và suy nghĩ cẩn thận để khỏi bị
thất bại và làm tṛ cười cho thiên hạ.
- KÊ KHẨU NGƯU
HẬU: Ư nóí cái miệng con gà tuy nhỏ nhưng dùng để
ăn các món ngon lạ, c̣n hậu môn của loài trâu tuy rất
to nhưng lại là chỗ để bài tiết những
chất cặn bă dơ dáy trong người trâu.Thành ngữ
trên được rút từ điển tích Tô Tần đi
du thuyết vua nước Hàn trong kế hoạch liên minh 6
nước chống Tần. Ông ta tâu với Hàn vương
‘nước Tần tuy mạnh nhưng Hàn có thể chống
cự được bằng cách liên minh với 6 nước
thù địch của Tần. Bằng nếu chưa đánh mà đầu hàng Tần một cách nhục
nhă th́ Hàn đâu khác ǵ một thứ ngưu hậu. Cùng
nghĩa với thành ngữ trên, tục ngữ VN cũng có
câu ‘ thà làm đầu ruồi c̣n hơn làm đuôi con chuột’.
Cả hai câu trên đều có chung ư nghĩa nhắc tới
phong cách sống của con người ‘nghèo cho sạch rách
cho thơm ‘để không bị đời khinh miệt cười
chê.
- PHONG MĂ NGƯU BẤT
TƯƠNG CẬP: Tả truyện có chép việc Tề
Hoàn Công đem quân chinh phục nước Thái nhân đó muốn tấn công luôn Sở nên vua nước
này sai sứ mang thư sang trách vua Tề ‘quân xử Bắc
Hải, quả nhân xử Nam Hải, dung thi phong mă ngưu bất
tương cập dă’. Ư nói ‘ông ở phương bắc,
tôi ở phương nam, không có liên hệ và đụng chạm
ǵ, tại sao lại phải đem quân xâm lấn?’. Từ điển
tích mới rút ra câu thành ngữ trên.
- CỬU NGƯU
NHẤT MAO: Đời Hán Vũ Đế (Lưu Triết) sai Lư Lăng
đem quân đánh Hung Nô. Lúc đầu
quân Hán thắng trận nên được vua quan ngợi
khen hết lời. Nhưng sau đó Lư Lăng v́ khinh địch nên trúng kế và bị
Hung Nô bắt. Lư Lăng v́ muốn bảo toàn mạng sống
quân sĩ dưới quyền nên giả đầu hàng giặc.
Được hung tin, vua Hán v́ nghe theo lời xiểm ninh của
bọn triều thần nên phán tội Lăng là phản quốc.
Trong buổi chầu
có mặt Tư Mă Thiên nên Hán Vũ Đế hỏi ư kiến
th́ được Thiên tâu rằng ‘Lư Lăng chỉ có 5 ngàn
binh sĩ trong lúc Hung Nô có tới 8 vạn kỵ binh nên Lăng
phải trá hàng nên nếu xét công tội, th́ công của Lăng
nhiều hơn tội, mong nhà vua châm chế’. Lời tâu
trên đă làm cho Hán Đế càng thêm giận dữ, kết tội
Lăng và Thiên là đồng lỏa, đem Thiên ra thiến
c̣n toàn bộ gia đ́nh Lư Lăng bị tru di. Trong ngục,
Tư Mă Thiên uất ức muốn tự tử chết nhưng
nghĩ lại ḿnh làm vậy đối với nhà vua và bọn
nịnh thần, cũng giống như chín con trâu chỉ mất
có một sợi lông. Bởi vậy ông cố nén đau nhục
để moi tim óc hoàn thành một tác phẩm vô tiền
khoáng hậu lưu truyền tới ngày nay. Đó là bộ ‘sử
kư Tư Mă Thiên’. Ngoài ra lúc c̣n trong ngục, ông có viết thư
cho người bạn tên Nhiêu Thiếu Khanh có câu ‘cửu ngưu
vong nhất mao’ diễn tả tâm trạng ḿnh, quyết quên
cái tiểu tiết để hoàn thành đại nghiệp,
lưu danh thiên cổ, mới không uổng kiếp người.
- HỎA NGƯU
TRẬN: Tướng Yên là Nhạc Nghị chỉ trong 6
tháng đă chiếm của Tề 70 thành tŕ và sắp dứt
điểm hai cứ điểm cuối cùng là Cử Châu
cùng với Tức Mặc do Điền Đan chỉ huy. Để giữ
thành, ông ngày đêm ḥa ḿnh với
dân chúng và binh sĩ tại đây nên dù bị vây khổn,
thành vẫn được b́nh an suốt 3 năm. Không làm
ǵ được nên Nhạc Nghị đành rút quân khỏi Tức Mặc 9 dặm
và lập đồn lủy ngăn chặn. Thừa cơ
hội trên, Điền Đơn cho gián điệp sang Yên phao tin
Nhạc Nghị v́ muốn làm vua nước Tề nên không
tấn công Tức Mặc. Vua Yên v́ đă có ḷng nghi kỵ lại
bị gian thần dèm pha sàm tấu nên ra lênh băi chức Nhạc
Nghị rồi cử Kỵ Kiếp cầm quân tấn công
Tức Mặc.
Đưọc tin
trên, Điền Đơn cho người giả làm thần nhơn
nữa đêm tới dinh Yên phao
tin ‘tướng trời sẽ xuống giúp Tề tiêu diệt
Yên v́ tội xâm lấn nước người’. Kế này đă
làm giao động quân địch. Để nung thêm ḷng quyết
tử của quân dân trong thành Tức Mặc, Điền Đơn
lại phao tin Kỵ Kiếp sẽ tàn sát cả thành này khi
chiếm được, làm cho nguời Tề rất căm
hận nên quyết ḷng tử chiến với quân Yên. Điền
Đơn c̣n dùng vàng bạc hôi lộ cho Kỵ Kiếp và các tướng
lảnh khác không đề pḥng, chỉ lo mở tiệc ăn
mừng chờ ngày Tề đầu hàng
Thấy thời cơ
đă đến, Đơn tập trung tất cả số
trâu đang có trong thành hơn ngàn con, cho chúng mặc áo giáp đỏ
vẽ thêm các màu loè loẹt, buộc gươm giáo mác bén nhọn
trên hai sừng c̣n phía sau đuôi trâu cột cỏ khô tẩm
dầu chai. Lại chọn 500 quân cường tráng can đảm,
mặc quần áo đỏ mặt mày vẽ dử tợn,
tay cầm trường thương chạy theo sau trâu. Thế
rồi màn đêm vừa buông xuống,
trong lúc đại quân Yên đang say sưa trong giấc điệp
sau một ngày tiệc tùng, th́ Điền Đan ra lệnh mở đại
tiệc thiết đăi tam quân, thề đuổi Yên ra khỏi
bờ cỏi. Sau đó cho lùa bầy
trâu ra khỏi thành đốt lửa, trâu bị nóng rống
lên khủng khiếp và cắm đầu chạy tông vào trại
Yên, 500 quân cảm tử chạy theo sau c̣n quân dân trong thành
th́ nổi chiên trống trợ oai.
Cảnh tượng
lúc đó chẳng khác ǵ trời
long đất lở trong lúc quân Yên đang ngủ say không
trở tay kịp bị 1000 con trâu điên và 500 quân cảm
tử tàn sát gần hết, Kỵ Kiếp cũng bị Điền
Đơn chém chết. Thừa thắng quân Tề đánh đuổi
quân Yên tới tận bờ nam sông Hoàng Hà, Điền Đơn chỉ
trong một đêm thu hồi
lại được 70 thành đă mất. Hỏa ngưu
trận c̣n được Hô Diên Chước ở Lương
Sơn Bạc và Nhạc Phi đời Tống dùng rất
có hiệu quả.
+ Trâu Trong Thi Văn
VN:
Trong LỤC SÚC TRANH
CÔNG: Đây là một tác phẩm văn vần cổ, khuyết
danh gồm 453 câu, diển tả sự tranh chấp giữa
6 con vật nuôi trong nhà là trâu, chó, ngựa,gà,dê và heo. Hiện
vẫn chưa biết ai thực sự là tác giả, đă
ra đời vào lúc nào nhưng không phải v́ thế mà nó mất
đi giá trị.
Tác phẩm được
viết theo lối tuồng, biền ngẩu với nhiều
cặp đối nhau, bên cạnh các câu văn b́nh dân giản
dị lại được xen kẻ các câu văn bác học,
điển tích và thành ngữ. Riêng Trâu được đề
cập tới trong truyện từ câu 13-122 mà phần mở
đầu là lời kể công với chủ:
‘lúc canh gà vừa mới gáy tan
chủ đă gọi thằng trâu vội vă
dạy rằng đuổi trâu ra thảo dă
cho nó ăn ba miếng đở ḷng’.
Rồi khi mặt trời vừa
mới mọc cho tới lúc chuông chùa điểm tiếng
thu không, trâu phải:
‘cày ruộng sâu ruộng cạn cho no
lại vườn đậu vườn mè khiến
trở
lúa gặt cắt lên đă có xe trâu
lúa chất trở lại để dành trâu đạp
lại xe gổ dân công liên khói
bắt luôn xe rào, xe củi.. ’
Và cũng nhờ có sức
trâu cáng đáng nên
chủ mới dựng nên cơ nghiệp đồ sộ
hôm nay: ‘trâu dựng nên nông nọ nồi kia, trâu làm đặng
lăn trên bồ dưới..’. Nhưng
v́ thói đời quen ‘ăn chén đá bát, đặng
cá quên nôm..’ nên chẳng ao thèm để ư
tới trâu. Đă vậy khi trâu già yếu chết đi th́ chủ
lại nhẩn tâm phanh thây trâu để chia thịt: ‘khi
thác lại đoạn t́nh siêu độ, bảo nhau sắm
con dao cái rổ, khiến nhau vơ nắm củi cáo mè ..’
Trong Tác Phẩm CON TRÂU của
TRẦN TIÊU (1900-1945): cũng là tên thật và bút hiệu, ông
sinh tại làng Cổ Am huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải
Dương, em một cha khác mẹ của Khái Hưng Trần
Khánh Giư, có chân trong Tự Lực Văn Đoàn, chuyên viết
về đồng quê miền Bắc với văn phong giản
dị chân thực nên rất được nhiều người
ưa chuộng. Đă để lại các tác phẩm như Năm
Hạn (1939), Con Trâu (1940), Chồng Con (1941), Truyện Quê
(1942) và Sau Lủy Tre (1943).. trong các tác phẩm trên, truyện
dài ‘Con Trâu’ được xem là tiêu biểu
nhất.
Qua nhân vật bác xă Chính
trong tác phẩm, ta biết được cuộc sống
cực khổ lầm than của người dân quê miền
Bắc, ngày đêm đầu tắt mặt tối nhưng
rốt cục vẫn phải trắng tay v́ thiên tai bảo
lụt, các tệ đoan hủ tục của làng xă phong kiến.
Thảm nhất là lúc ĺa đời, con trâu mà cả gia đ́nh bác đă
đổi lấy bằng mồ hôi máu mắt kiếm được,
cũng lăn chết v́ bệnh dịch. Tóm lại toàn bộ
tác phẩm ‘con trâu’ của Trần Tiêu đă nói
lên đời sống lầm than của nông dân miền Bắc
trong suốt thời Pháp thuộc.
+ Trâu Trong truyện Vỏ Hiệp
Của Kim Dung: Các tác phẩm vỏ hiệp của Kim Dung đều
được hư cấu với mục đính phản ảnh về thế
giới của các kiếm khách. Tuy nhiên v́ các
câu chuyện đều lấy đất nước Trung
Hoa làm bối cảnh nên tác giả cũng đă ghi lại
một phần h́nh ảnh nông thôn trong đó có nhắc
tới con trâu.
Trong ‘Thần điêu hiệp
lữ’ Kim Dung có viết đoạn
Dương Quá cởi trâu bị đốt đuốc phía
sau, phóng thục mạng vào ṿng vây quân Mông Cổ để
nhắc lại cuộc khởi nghĩa của người
dân thành Tương Dương vào các năm 1281-1282. Trước
đó Quách
Tĩnh trong ‘Anh hùng Xạ Điêu’
cũng đuợc thầy là Hồng Thất Công đặt
cho biệt danh ‘Trâu Nước (thủy ngưu)’
v́ tính t́nh cục mịch, quê mùa chậm hiểu biết.
C̣n ‘Lục mạch thần kiếm’ th́ nói
bọn quần tiên tại 36 động 72 đảo, trước
khi tấn công lên cung Linh Thứu trên núi Phiêu Diêu, đă ‘ăn
như ngựa, uống như trâu (mă thực, ngưu ẩm)’.
Kim Dung cũng nhắc tới
thứ trống được bịt bằng da trâu, được
Lệnh Hồ Xung trong ‘Tiếu Ngạo Giang Hồ’
sử dụng làm tín hiệu khi cùng với quần ma tấn
công chùa Thiếu Lâm để cứu Nhậm Doanh Doanh. Lại
c̣n có roi làm bằng đuôi trâu, chum uống rượu bằng
sừng trâu v́ nó có chất tanh tanh có thể chế ngự được
độ nồng của rượu trắng. Sau cùng ai
cũng nói dơ, ngu như trâu nhưng Kim Dung th́ ngược
lại v́ hầu hết trong các tác phẩm của ông, những
ǵ tốy đẹp hay ho đều dành cho trâu như các
nhân vật Hồ Thanh Ngưu (ngoại hiệu của Diệp
Cốc Y Tiên), Tăng A Ngưu (Trương Vô Kỵ) trong
‘Đồ Long Ỷ Thiên Kiếm’.. đều ngoại hạng.
Tóm lại người Việt
nuôi trâu mục đích để lo việc đồng áng,
kéo xe, tải gổ. Nó cũng là h́nh ảnh thân thương
đặc biệt trong tâm thức mọi người, một
con vật hiền lành có t́nh nghĩa nên xưa nay chưa thấy
ai nói trâu phản bội con người. Trong kho tàng văn
học dân gian VN, có 2 câu chuyện được đánh giá
hay nhất là truyện ‘Trâu Nhà Trâu Rừng và Trâu Cày Trâu Cột’ đă
phản ảnh sự trung thành của trâu với người
chủ, qua các lời đối thoại, đồng thời
để nói lên cái nhân sinh quan muôn đời của dân tộc
Việt: ‘Sống sao cho đáng sống, sống phải có trước
có sau, đừng bắt chước thói đời đốn
mạt ăn chén đá bát, vong ơn bội nghĩa ..’
Bổng dưng nhớ lại
thật nhiều những ngày xưa thân ái thời tuổi
nhỏ nơi chốn học đường, ngày ngày cắp
sách tới trường cùng bạn bè nghêu ngao ca hát bài ‘Ai bảo
chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ’. Nhưng sự thật chỉ
là tưởng tượng mà thôi v́ sau tháng 5-1975, qua cuộc
đổi đời khiến cho người khôn kẻ dại
của Miền Nam hầu hết đều trở thành mục
tử nơi chốn tù ngục, vùng kinh tế mới và những
chốn dung thân bắt đắc dĩ ở nông thôn.. mới
thấm thía về thân phận kéo xe, kéo cày của kiếp
‘trâu ḅ’.
‘…Đem sức
người đi phá núi dời non
đem
mạng sống để gỡ ḿn tháo đạn
thay trời
dẫn nước vào sông đă cạn
thay
trâu kéo cày phá vở ruộng hoang.. ’
Xóm Cồn
Hạ Uy Di
Vào Đông 2008
MƯỜNG GIANG