TS Mai Thanh Truyết
Tiến
bộ khoa học cùng với việc phát minh các công nghệ
mới trong thế kỷ 20 đă cho ra đời nhiều
ứng dụng hầu thỏa măn nhu cầu mà con
người cần đến hay nghĩ đến. Con
người ngày càng ch́m đắm trong những khám phá
mới, t́m thêm nhu cầu mới, dù cần thiết hay không
cần thiết cho cuộc sống.
Cuộc
chạy đua do chính con người đặt ra
dừơng như không có điểm đến! Và hơn
nữa, cuộc đua nầy càng kích thích thêm tham vọng
ngự trị của con người, càng làm tăng thêm ngă
vọng đến một mức độ khó kềm
chế nỗi.
Với các
khả năng khoa học hiện có, con người
hầu như làm chủ thiên nhiên trong việc chế
tạo các sản phẩm mới để tăng thêm nhu
cầu và thị hiếu của nhân loại. Đôi khi
những nhu cầu đó hoàn toàn không cần thiết và vô
ích nếu không nói là làm thoái hóa thêm quá tŕnh phát triển
của con người cũng như huỷ hoại tài
nguyên thiên nhiên và công sức con người một cách phí
phạm.
Xáo
trộn trật tự của thiên nhiên
Sự cân bằng của vạn vật đă
được sắp xếp theo một thứ tự nào đó
của thiên nhiên. Từ ngàn năm trước nếu nh́n
lại, khi khoa học chưa phát triển nhiều và con
người có một hiểu biết rất hạn
chế, thiên nhiên vẫn ưu đăi và tạo dựng ra
một đời sống tương đối an lành cho
con người.
Số
mầm bịnh không nhiều so với hiện tại, và
sự xuất hiện những mầm bịnh mới chính
là sản phẩm của khoa học và con người. Con
người đă lạm dụng khoa học, và với
mặc cảm tự tôn, họ tin rằng sẽ chiến
thắng được thiên nhiên, kiểm soát thiên nhiên, và
luôn cố gắng thỏa măn ḷng kiêu hănh của ḿnh qua việc
chinh phục thiên nhiên.
Tuy nhiên, sau
cùng rồi, thiên nhiên đă đáp lại rằng, hăy c̣n quá
nhiều ẩn số mà con người chưa thể
giải đáp được! Thiên nhiên đă vận hành
tuần hoàn, có chu kỳ thời tiết mưa, nắng,
băo, lụt...cho từng khu vực trước kia; nhưng
hôm nay, con người đă làm đăo lộn các chu kỳ
trên một cách không kiểm soát nổi, và hiện
tượng hâm nóng toàn cầu và hiệu ứng nhà kính là
hai hậu quả trước mắt mà con người
phải gánh chịu qua suy nghĩ “làm chủ thiên nhiên”
của ḿnh.
Hiện tựơng
hạn hán, băo lụt xẩy ra thừơng xuyên hơn
không c̣n theo một chu kỳ tuần hoàn nào có thể tiên
liệu như trước kia cách đây vài thập niên
nữa. Bầu khí quyển tiếp tục nóng dần và có
khuynh hướng tăng trưởng nhanh hơn theo
thời gian.
El Nino là
hiện tượng nước biển bị hâm nóng theo
chu kỳ tự nhiên khoảng tám đến mười
năm vào các thập niên trước; nay chu kỳ trên
đă bị thu ngắn lại c̣n khoảng 4 – 5 năm và
không có những dấu hiệu báo trước rơ ràng như
xưa nữa. Tóm lại, con người càng thách
thức thiên nhiên càng phải gánh thêm nhiều hậu
quả không thể lường trước
đựơc!
Cuộc thách
thức thiên nhiên sẽ đi về đâu
Có thể
nói, cuộc thách thức giữa con người và thiên nhiên ngày càng gay gắt, và nếu không kịp điều chỉnh
đúng mức và như con đường chúng ta
đang đi hiện nay, chúng ta có thể sẽ đi vào
ngơ cụt.
V́ thiên nhiên hay môi trường sống
của con người tự nó đă được
sắp xếp theo một hợp lư nào đó và c̣n quá
nhiều ẩn số mà con người chưa đủ
khả năng để lư giải th́ làm sao có khả
năng để hàng phục thiên nhiên được.
Do đó, càng
vận dụng khả năng và trí “thông minh” của ḿnh
để thách đố, khiêu khích thiên nhiên, con
người càng không thể t́m lối ra trong an b́nh
được. Và hôm nay, con người đang đi
gần đến chỗ bế tắc hơn nữa khi
t́m cách giải quyết những vấn nạn môi sinh trên
thế giới do chính con người tạo ra như:
1- Bầu khí
quyển bị ô nhiễm đến mức báo động;
2- Nguồn
nước sinh hoạt bắt đầu cạn kiệt
về lượng cũng như không c̣n trong lành về phẩm như xưa
nữa;
3 - Và vùng
đất sinh sống của con người ngày ngày càng
bị thu hẹp do ô nhiễm, sa mạc hóa, sự chai
đất v.v.. .
Lối
ra cho con người
Tuy nhiên, nếu chúng
ta cùng nh́n vào một bước tích cực, chúng ta vẫn
c̣n có lối ra hay một
giải pháp nếu chúng ta biết suy nghĩ lại. Do đó,
công việc truy t́m một phương hướng
để giải quyết vấn đề ô nhiễm
hiện nay quả là một nan đề cho bất cứ
nhà khoa học nào có lương tâm và có một tầm nh́n
đúng đắn về dự phóng tương lai.
Dùng khoa
học hay kỹ thuật thuần túy để giải
quyết ô nhiễm môi trường đă gặp những
bế tắc v́ con người đă và đang đi vào
một chu kỳ không lối thoát do việc xử lư và tái
tạo ô nhiễm vẫn tiếp diễn liên tục. Cho
nên, nguyên lư dùng thiên nhiên trong triết lư Sinh Diệt
của Phật giáo để giải quyết các vấn
nạn của thiên nhiên sẽ là một suy nghiệm căn
bản và cấp bách và có thể được xem như
là một căn bản vững chắc cho mọi
phương pháp xử lư ô nhiễm môi trường trong
hiện tại và tương lai.
Ngay từ giờ phút nầy, sự hài ḥa tự nhiên của
thiên nhiên là một điều cần thiết trong thế
giới ta bà hiện tại. Và trong
chiều hướng đó, nhiều nhà khoa học đă t́m
về thiên nhiên để suy nghiệm và giải lư từ
các chu kỳ tuần hoàn của cây cỏ để
đưa ra các phương pháp thích nghi cho việc xử
lư ô nhiễm môi trường. Nguyên lư SINH - DIÊT của Phật giáo có thể đem
ra áp dụng ở trường hợp nầy để
mang lại sự cân bằng cho hai nhu cầu trên.
V́ vậy,
trong thiên niên kỷ thứ ba nầy, nhiệm vụ chính
yếu của các nhà làm khoa học trên thế giới là:
1- Phải
tập trung trí tuệ để bảo vệ và tái
tạo sự tuần ḥan nguyên thủy của thiên nhiên, như
hạn chế việc thiết lập thêm và phá huỷ các
đập thuỷ điện hiện có để duy tŕ
hệ sinh thái thiên nhiên trong vùng;
2- Nghiên
cứu những công nghệ sạch để thay thế
nguồn các năng lượng đang xử dụng
hiện tại, như dùng năng lượng tái tạo
hay năng lượng mặt trời, gió, hoặc biến
cải năng lượng từ than nhiệt điện
bằng phương pháp biến than đá thành khí và từ
đó tạo ra năng lượng;
3- Truy t́m các
giải pháp thiên nhiên để giải quyết vấn
nạn ô nhiễm trên thế giới như dùng cây cỏ
để hấp thụ hoá chất độc hại do
con người thải ra trong đất và nước do
phát triển kỹ nghệ.
Thành
quả bước đầu
Những thành quả ban đầu trong việc làm
sạch bầu khí
quyển, phục hoạt đất và duy tŕ nguồn
nước sạch đă được bắt
đầu và có những thành tựu đáng kể sau
đây.
Trước tiên là vấn đề làm
sạch bầu khí quyển. Trong quá tŕnh sản xuất
năng lượng cho nhu cầu của con người
trên thế giới, thán khí hay carbon dioxide (CO2) đă
được thải hồi vào không khí do việc thiêu
đốt than, dầu khí, khói xe, nhà máy v. v.. . Và thán khí là
một thành tố quan trọng nhất trong việc góp
phần vào sự hâm nóng ṭan cầu.
Theo Cơ
quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và Bộ Năng
lượng (DOE), kể từ khi cách mạng kỹ
nghệ toàn cầu bắt đầu khoảng 200 năm
trước đây th́ lượng thán được khí
thải hồi vào bầu khí quyển tăng từ 280 mg/L
lên 370 mg/L. Hoa Kỳ cũng đă ước tính trong ṿng 20
năm tới, lượng khí nầy sẽ tăng lên 43%.
Do đó, nhu cầu thiết yếu hiện tại là
phải t́m một phương cách tối ưu để
giảm thiểu lượng thán khí nầy. Và Hội nghi
Thượng đỉnh về việc giảm thiểu
trên sẽ được thảo luận vào tháng 12, 2009
để chuẩn bị cho Hiệp định Kyoto
sắp hết hiệu lực vào năm 2012.
Nguyên tắc căn bản được các nhà khoa
học lưu ư đến hiện tại là làm cách nào
“nhốt” thán khí lại và chuyển hoá khí nầy thành than và
nước. Nhiều phương pháp đang
được thí nghiệm như sau:
1-
Thán
khí sẽ được bơm vào phía dưới các
lớp đất đá nằm sâu trong ḷng đất,
hoặc bơm vào các rừng rậm để cho cây cỏ
hấp thụ và biến cải thành oxy và carbon.
2-
Thán
khí từ các nhà máy sẽ được hoá lỏng và
bơm thẳng vào ḷng biển sâu độ 1000 mét xuyên qua
hệ thống có chứa chất sắt để tạo
ra nguồn “phân bón” cho các loài phytoplankton như phiêu, tảo,
và vi khuẩn sống trong nước biển có khả
năng đồng hóa diệp lục tố như cây
cỏ trong không khí. Các sinh vật nầy sẽ hấp
thụ thán khí và phóng thích dưởng khí (O2) vào nước
biển (xin đọc bài Bón phân Đại dương
của cùng tác giả). Phương pháp nầy đă
được đem vào ứng dụng ở vài nơi khi
nghị định thư
Việc
biến cải đất đai, từ hơn một thập niên trở lại đây,
việc nghiên cứu các vi khuẩn có khả năng
hấp thụ các chất hữu cơ và kim loaị
độc hại phế thải trong kỹ nghệ là
mục tiêu cấp bách của các khoa học gia trên thế
giới.
Năm 1994,
Terry Hazen đă dùng kỹ thuật thổi mạnh vi
khuẩn trộn lẫn với các khí (bio-sparging) vào ḷng
đất sâu dưới đáy sông Savannath, South Carolina v́
nơi đây đă bị ô nhiễm trichloroethylene (TCE),
một dung môi căn bản dùng trong việc rữa dầu
mở bám vào máy móc. Vi khuẩn xử dụng có tên là Methylo
sinus trichosporium được trộn lẫn với khí
methane có công dụng biến cải TCE thành thán khí. Chỉ
trong ṿng 2 năm, phương pháp sinh thoái hóa nầy
(bio-degradation) đă làm sạch ḷng sông kể trên.
Một khám
phá mới nữa được công bố vào tháng 4/04 do 2
TS Ravi Nadu và Mallavarapu Megharaj thuộc viện đại
học
C̣n việc
xử lư nước sinh hoạt đă
được các nhà khoa học áp dụng tính hấp
thụ và hấp phụ (absorption và
adsorption) của cây cỏ
để giải quyết vấn đề nầy.
Như cây hướng dương có khả năng hấp
thụ phóng xạ trong nước và đất đă
được dùng để biến cải vùng
đất ô nhiễm sau tai nạn ở nhà máy nguyên tử
ở
Riêng về ô
nhiễm Arsenic trong đất và nước, TS Lena Q. Ma
thuộc đại học Florida đă thành công trong
việc dùng cây dương xỉ Pteris Vittata để
hấp thụ arsenic trong đất. Chúng tôi cũng đă
từng thí nghiệm với cây dương xỉ thuộc
ho Nephrolepis Obliterata bằng cách bơm lượng arsenic vào
trong đất, và sau một tuần lễ phân tích
lượng arsenic c̣n lại trong đất và lượng
hóa chất nầy trong lá cây. Kết quả rất khích
lệ. Cây dương xỉ thuộc họ Rán nầy
đă mọc dọc theo sông rạch miền Nam Việt Nam
và đă được người dân ĐBSCL dùng làm rau
ghém trộn lẫn các rau khác có thể là một
phương cách hay nhất để giải quyết
vấn đề ô nhiễm Arsenic trong nguồn nước
ở Việt Nam phối hợpmcùng vớiRễ cây lục
b́nh… .
Thay
lời kết
Chúng ta đang ở vào thiên niên kỷ thứ ba,
hiện tại, con
người có hai nhu cầu chính yếu:
1- Nhu cầu
phát triển và sản xuất sản phẩm để sinh tồn,
2- Và nhu cầu giải quyết các
phụ phế phẩm để làm sạch môi
trừờng do nhu cầu phát triển tạo ra.
Hai nhu cầu nầy cần
phải đựơc tính toán để tạo
được sự cân bằng môi trường và
phải được thử nghiệm kỹ
lưỡng để các nhu cầu trên khỏi bị
trấn áp lẫn nhau v́ bất cứ lư do ǵ.
Tiến tŕnh
làm sạch thiên nhiên, trả lại thiên nhiên những
nguồn nước trong lành, bầu khí quyển
tươi mát, bảo vệ những cánh rừng nơi trú
ngụ của các thú vật sắp bị tiệt chũng,
bớt phí phạm những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên
thế giới nhất là nguồn nước ngọt... là
bổn phận và trách nhiệm của mọi người
trên hành tinh nầy. Con
người đă từng tự nhận là một sinh
vật thượng đẳng do đó không thể từ
chối bổn phận trên được.
Nếu ư
thức được những bổn phận và trách
nhiệm trên mỗi người trong chúng ta sẽ biết
ǵn giữ và bảo vệ môi trường sống chung
quanh ḿnh, đó là một phương cách an toàn và nhân
bản nhất để có một cuộc hành tŕnh tốt
đẹp và an b́nh nhất trong thiên kỷ thứ ba.
Và hơn
nữa, có làm được như thế, chúng ta mới hoàn trả lại một phần nào
món nợ mà chúng ta đă vay mượn trước của
các thế hệ sau do việc đă làm suy thoái môi
trường và phí phạm tài nguyên trong quá tŕnh phát triển
kỹ nghệ để giải quyết nhu cầu
của con người trong suốt thời gian qua.
Hy vọng
con người sẽ làm được điều
nầy trong một tương lai không xa.
Mai Thanh Truyết
VAST 12, 2008